Một Số Giải Pháp Về Đào Tạo Nghề Đáp Ứng Nhu Cầu Doanh Nghiệp

29/03/2017 10:09 AM -  134
Nhu cầu ngày càng lớn... Đào tạo nói chung và đào taọ theo nhu cầu của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động nói riêng đang được toàn xã hội quan tâm. Vấn đề đặt ra là tại sao phải đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp?
Thứ nhất, trước sức ép của cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam muốn tồn tại và chiến thắng không có cách nào khác phải nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, từ đó có nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn lao động. Thứ hai, đó là từ trước đến nay, về cơ bản, các cơ sở chủ yếu chỉ đào tạo “cái mình có” chứ chưa chú trọng đến “cái thị trường cần”. Nói cách khác, các cơ sở đào tạo không biết những “sản phẩm” mình “làm ra” được thị trường, được xã hội chấp nhận đến đâu. Điều này đã tạo ra sức ỳ rất lớn đối với việc đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp đào tạo. Đến nay, trong bối cảnh hội nhập, sự cạnh tranh ngay trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo cũng buộc các cơ sở đào tạo phải chú trọng hơn đến nhu cầu của thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp. Như vậy có thể thấy, sức ép của cạnh tranh làm tăng cầu về chất lượng lao động của doanh nghiệp. Đến lượt mình, sức ép tăng cầu về chất lượng lao động của doanh nghiệp tạo ra tăng cung về chất lượng lao động được đào tạo.
      Vậy thực tế cầu lao động qua đào tạo nghề ra sao? Cùng với việc phát triển doanh nghiệp, nhu cầu sử dụng lao động nói chung và lao động qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp ngày càng cao. Qua khảo sát của Tổng cục Dạy nghề ở gần 3000 doanh nghiệp, thấy có khoảng 53% số doanh nghiệp hiện đang thiếu hụt khoảng 7% số lao động. Với quy mô bình quân 150 lao động/doanh nghiệp, thì một doanh nghiệp có nhu cầu thêm 11 lao động, trong đó 60% là lao động qua đào tạo nghề, nghĩa là 6-7 người. Hiện tại cả nước có 234.000 doanh nghiệp thì còn thiếu tối thiểu từ 1,4 triệu đến 1,6 triệu lao động qua đào tạo nghề. Trong số lao động kỹ thuật các doanh nghiệp, có nhu cầu tuyển dụng, số qua dạy nghề chiếm gần 55%, còn lại là trình độ trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng.
      Với tốc độ tăng trưởng việc làm như hiện nay, t?ng nhu cầu thêm về lao động qua đào tạo nghề đến năm 2010 sẽ là 8 triệu, bình quân 1,6 triệu người/năm và đến 2015 sẽ là 10 triệu người, bình quân 2 triệu người/năm, trong đó chủ yếu làm việc trong các doanh nghiệp .
      Một số nghề/ nhóm nghề đang có nhu cầu cao về lao động qua đào tạo nghề là thợ dệt, may; thợ thuộc da và làm giày; thợ vận hành máy và thiết bị; thợ cơ khí, lắp ráp máy móc; thợ xây dựng...Một số nghề/nhóm nghề khác, nhu cầu chưa cao ( về quy mô) nhưng lại đang rất thiếu đó là lập trình viên, nghề điện, điện tử, cơ- điện tử, chế biến nông sản và các sản phẩm công nghiệp....
      Theo báo cáo của Bộ Giáo dục Đào tạo trong Hội thảo “Đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp” được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hội trong tháng 11 năm 2007, tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật vẫn trầm trọng ở các ngành, nghề như dệt may, da giầy, gỗ, du lịch... Trong quý II/2007 chỉ số cầu nguồn nhân lực của 46/56 ngành nghề tăng đáng kể và tập trung ở các ngành nghề đòi hỏi chuyên môn và trình độ cao. Cũng theo báo cáo này, mặc dù trong quý II năm 2007, chỉ số nguồn cung nhân lực đã có chiều hướng tăng lên, nhưng chỉ mới tăng 30% song cầu về nhân lực lại tăng tới 142% so với quý I cùng năm. Cũng tại Hội thảo này, nhiều doanh nghiệp đã nêu nhu cầu về nhân lực trong thời gian tới. Chẳng hạn, theo báo cáo của tập đoàn dệt may Việt Nam, hiện tại các doanh nghiệp có từ 1000 lao động trở lên chỉ chiếm 6% trong tổng số các doanh nghiệp của Tập đoàn, còn lại là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp dệt may thiếu trầm trọng lao động lao động qua đào tạo nghề thiết kế và nhân viên kỹ thuật. Sự thiếu hụt này đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh về nguồn nhân lực giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn. Hầu hết các tập đoàn lớn như Than- khoáng sản Việt Nam, Vinashin, Giấy, Ô tô... đều có nhu cầu rất lớn về lao động qua đào tạo nghề và lao động có trình độ cao nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các tập đoàn này trước làn sóng đầu tư ồ àt vào Việt Nam. Qua khảo sát trên 500 doanh nghiệp ở Hà Tây cho thấy, hiện tại các doanh nghiệp này đang sử dụng trên 53000 lao động, nhưng đến năm 2010 sẽ tăng lên gần 66000 lao động, trong đó trên 54000 là lao động qua đào tạo nghề (chiếm trên 81%)... Điều này cho thấy với sự phát triển về số lượng các doanh nghiệp thì nhu cầu vè lao động qua đào tạo nghề là rất lớn.
      Ngoài việc có nhu cầu tuyển dụng lao động, đào tạo nâng cao tay nghề cho lao động sau khi tuyển dụng là một vấn đề cần thiết ở các doanh nghiệp. Qua khảo sát gần 10000 lao động trong các doanh nghiệp, có 36,6% số lao động được đào tạo/đào tạo lại sau khi tuyển dụng để phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp tổ chức đào tạo - dạy nghề cho lao động dưới các hình thức khác nhau đang ngày càng trở nên phổ biến và có tác dụng tích cực nâng cao trình độ tay nghề và chất lượng lao động. Các doanh nghiệp tổ chức dạy nghề cho lao động theo 3 hình thức chủ yếu sau: kèm cặp tại doanh nghiệp, đào tạo tập trung tại doanh nghiệp và đào tạo tập trung ngoài doanh nghiệp, trong đó dạy nghề kèm cặp là phổ biến hơn cả (chiếm 63,6% tổng số lao động được đào tạo). Rõ ràng đây là hình thức này phù hợp với khả năng, điều kiện của doanh nghiệp. 
      Khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
      Trước yêu cầu của sự phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các cơ sở đào tạo, trong đó có đào tạo nghề đã có những đổi mới bước đầu và đã từng bước đáp ứng được nhu cầu về lao động kỹ thuật cho các doanh nghiệp và thị trường lao động. Riêng trong lĩnh vực đào tạo nghề có thể nêu một số kết quả đã đạt được như sau:
      - Hệ thống dạy nghề đã bắt đầu được đổi mới, chuyển từ hệ thống dạy nghề trình độ thấp với hai cấp trình độ đào tạo sang hệ thống dạy nghề với ba cấp trình độ đào tạo: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề; coi trọng dạy nghề trình độ cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
      - Mạng lưới các cơ sở dạy nghề được phát triển theo quy hoạch rộng khắp trên toàn quốc, đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình đào tạo. Trong vòng 6 năm (2001-2006), số trường dạy nghề tăng từ 156 trường lên 262 trường; số trung tâm dạy nghề tăng từ 150 trung tâm lên 599 trung tâm và đã phát triển được hơn một ngàn cơ sở dạy nghề khác trên phạm vi toàn quốc. Số lượng cơ sở dạy nghề tư thục tăng nhanh, đã có một số cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài. 
      - Quy mô đào tạo nghề tăng nhanh, giai đoạn 2001-2006 dạy nghề cho 6,6 triệu người (tăng bình quân hàng năm 6,5%), trong đó dạy nghề dài hạn đạt 1,14 triệu người (tăng bình quân 15%/năm; dạy nghề ngắn hạn đạt 5,46 triệu người (tăng bình quân gần 6%/năm). Dạy nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu cho các doanh nghiệp trong nước mà còn góp phần cho xuất khẩu lao động. Hàng năm nước ta đã xuất khẩu được 60000 đến 70000 lao động, nâng tổng số lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 nước và vùng lãnh thổ lên trên 500000 người, trong đó khoảng 30% đã qua đào tạo nghề.
      Quy mô dạy nghề trong những năm qua tăng nhanh đã nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 13,4% năm 2001 lên khoảng 20% năm 2006, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. 
      - Cơ cấu ngành nghề trong đào tạo nghề đã từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Các cơ sở dạy nghề đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu. Cùng với việc đào tạo các nghề phục vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động. 
      - Dạy nghề đã tiếp cận được với nhu cầu của doanh nghiệp. Người lao động sau khu được đào tạo nghề, nhìn chung đã được làm việc phù hợp với nghề và trình độ đào tạo. Qua khảo sát của Tổng cục Dạy nghề cho thấy khoảng 80- 85% số người cho rằng việc làm hiện tại của họ tại doanh nghiệp phù hợp với nghề và trình độ được đào tạo. 
      Như vậy, dưới giác độ sử dụng lao động, lao động qua đào tạo nghề đã bước đầu đáp ứng được cả về quy mô và chất lượng đào tạo. Các cơ sở dạy nghề đã từng bước đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất của thị trường lao động. Lao động Việt Nam đã đảm nhiệm được hầu hết những vị trí quan trọng trong các ngành sản xuất, kể cả các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, công nghệ phức tạp, góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.
      Việc dạy nghề được phát triển với các mô hình dạy nghề năng động, linh hoạt gắn đào tạo với sử dụng lao động theo hướng cầu của thị trường lao động để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương. ..
      Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
      Đây là xu thế không chỉ ở nước ta mà cả ở các nước công nghiệp phát triển. Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp cơ nhiều ưu điểm là: người học nghề được học những nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Các kiến thức và kỹ năng nghề mà người học tiếp thu được đáp ứng được lợi ích của cả người học và người sử dụng lao động. Người học nghề ngoài việc học lý thuyết nghề, được thực tập ngay trên các máy móc, thiết bị đang sử dụng tại doanh nghiệp. Các cơ sở đào tạo sau khi dạy xong lý thuyết, gửi học sinh vào các doanh nghiệp để thực tập trên các thiết bị đang sử dụng của doanh nghiệp, làm cho người học có thể vận dụng được những kiến thức đã học, đồng thời nâng cao được kỹ năng nghề. Việc liên kết đào tạo này đã làm tăng mối quan hệ hiểu biết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Cơ sở đào tạo không phải tăng đầu tư cho việc mua sắm trang thiết bị dạy thực hành và người học có thể tiếp thu bài học nhanh hơn. Về phía doanh nghiệp có thể sử dụng được những học sinh học nghề để tạo ra những sản phẩm mới học có thể lựa chọn được những người lao động có kỹ thuật tương lai cho mình. Có nhiều hình thức hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Ví dụ trương LILAMA 2 đã có mạng lưới các doanh nghiệp của các tập đoàn lớn như PetroViétnam. Vinashin, Vedan…để đưa học sinh đến thực tập định kỳ và đào tạo lại, bồi dưỡng tay nghề cho lao động của các doanh nghiệp này… Một số doanh nghiệp còn trực tiếp đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở đào tạo để có thể đào tạo được những nghề ở những trình độ doanh nghiệp mong muốn, ví dụ như công ty Compal Việt Nam đầu tư cho trường cao đẳng công nghiệp Phúc yên… 
      Ngoài việc kết hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp, một số doanh nghiệp đã thành lập các cơ sở đào tạo riêng. Đến nay, cả nước có 143 cơ sở dạy nghề thuộc các doanh nghiệp; hầu hết các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế mạnh đều có trường dạy nghề để chủ động tạo nguồn nhân lực và góp phần cung cấp cho xã hội. Các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn đã chủ động tổ chức dạy nghề, bổ túc nghề, bồi dưỡng kỹ năng nghề, chuyển giao công nghệ cho người lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp. 
      Tuy nhiên, việc đào tạo nghề cho doanh nghiệp và tại doanh nghiệp vẫn còn những tồn tại, hạn chế, đó là:
      - Số lượng các cơ sở dạy nghề trong doanh nghiệp còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của bản thân doanh nghiệp.
      - Cơ cấu ngành, nghề đào tạo vẫn chưa thật phù hợp với cơ cấu ngành, nghề của thị trường lao động; chưa bổ sung thường xuyên các nghề đào tạo mới theo yêu cầu của thị trường lao động; thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao cung cấp cho các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế trọng điểm và cho xuất khẩu lao động.
      - Chất lượng dạy nghề vẫn còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, chưa phù hợp với sự thay đổi nhanh công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.
      - Người lao động qua đào tạo nghề, kỹ năng thực hành và khả năng thích ứng với sự thay đổi công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế. 
      - Mối quan hệ trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo (cả về trách nhiệm và quyền lợi), nên trên thực tế các trường vẫn chủ yếu đào tạo theo khả năng “cung” của mình chứ chưa thực sự đào tạo theo “cầu” của doanh nghiệp. 
      Một số giải pháp:
      Các chính sách vĩ mô:
      - Chuyển mạnh dạy nghề từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường lao động. 
      - Tập trung nguồn lực hình thành hệ thống các trường trọng điểm, trường chất lượng cao ở các vùng, các ngành kinh tế trọng điểm để đào tạo đội ngũ LĐKT trình độ cao đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. 
      - Củng cố và phát triển những trường đào tạo chuyên ngành để phục vụ cho những nhu cầu đặc thù của một số ngành; đồng thời tiến hành kiểm định chất lượng các cơ sở dạy nghề.
      - Bổ sung cơ chế chính sách để huy động các doanh nghiệp tham gia vào đào tạo nghề và phát triển cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp.
      - Phải coi dạy nghề tại doanh nghiệp như là một hình thức đào tạo cho người LĐ chứ cơ sở sản xuất không chỉ là nơi thực tập. Có các tiêu chí đánh giá, công nhận kỹ năng nghề của người lao động được đào tạo tại doanh nghiệp hoặc tự đào tạo trong quá trình lao động.
      - Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng mềm dẻo, tích hợp và linh hoạt, phù hợp với sự thay đổi công nghệ của doanh nghiệp.
      - Đổi mới phương pháp đào tạo, lấy rèn luyện kỹ năng nghề của người lao động trong doanh nghiệp để điều chỉnh phương pháp đào tạo. 
      - Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên trên cơ sở tích hợp kiến thức ( lý thuyết, trình độ sư phạm và năng lực thực hành nghề) và có chính sách đặc thù đối với GVDN. Hiện nay GVDN còn yếu về năng lực thực hành.
      - Cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước về lao động với đại diện giới chủ, đaị diện giới thợ,đại diện của các hội nghề nghiệp và cơ sở dạy nghề trong việc xác định nhu cầu của doanh nghiệp về lao động.
      - Xây dựng trung tâm phân tích, dự báo nhu cầu thị trường lao động.
      - Tăng cường hợp tác với các nước đặc biệt là các nước trong khu vực để tiếp cận chuẩn quốc tế và chuẩn khu vực về kỹ năng nghề.
      Đối với cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp:
      - Cơ sở dạy nghề phải gắn với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo: Doanh nghiệp tham gia xây dựng tiêu chuẩn, kỹ năng nghề, thiết kế chương trình và tham gia giảng dạy, đánh giá kết quả học tập của người học nghề... Cơ sở dạy nghề dạy lý thuyết, doanh nghiệp đào tạo kỹ năng nghề, kèm cặp tại doanh nghiệp. 
      - Cơ sở dạy nghề phải chủ động điều tra để có được thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp ( nghề, trình độ, mức độ kỹ năng...) để tổ chức đào tạo phù hợp.
      - Doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ sở dạy nghề về nhu cầu về lao động.